*:not(:last-child)]:dt-mb-6">
Tại diễn đàn "Phổ biến quy định EPR và cơ chế hỗ trợ hoạt động xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân bón" do các đơn vị chuyên môn phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk tổ chức ngày 14/4, bức tranh về rác thải nông nghiệp năm 2026 đã được mổ xẻ chi tiết.
Theo đó, tình trạng vứt bỏ bao bì trên đồng ruộng, kênh mương còn khá phổ biến, không chỉ gây ô nhiễm đất mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn nước và hệ sinh thái.
Thu gom tăng mạnh nhưng xử lý "đứt gãy"
Ông Lương Ngọc Quang - Phó Trưởng phòng An toàn thực phẩm và Môi trường (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) - thông tin, trong giai đoạn 2024-2026, cả nước đã thu gom gần 2.500 tấn bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng. Tuy nhiên, vẫn còn hơn 550 tấn chưa được xử lý.

Theo ông Quang, bao bì thuốc bảo vệ thực vật được xếp vào nhóm chất thải nguy hại do chứa tồn dư hóa chất độc hại. Hệ thống pháp lý hiện hành, nổi bật là cơ chế EPR (Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất), quy định bao bì sau sử dụng phải được thu gom vào bể chứa chuyên dụng và vận chuyển đến cơ sở có giấy phép xử lý trong vòng 12 tháng.
Tuy nhiên, kết quả xử lý vẫn chưa tương xứng. Trong tổng lượng bao bì thu gom được, chỉ khoảng 1.400 tấn được tiêu hủy đúng quy chuẩn; hơn 500 tấn do người dân tự đốt/chôn lấp sai cách, và hơn 20% vẫn đang "nằm chờ". Điều này cho thấy “điểm nghẽn” hiện nay không nằm ở nhận thức thu gom ban đầu mà ở khâu hậu thu gom.
"Nhiều địa phương, do không còn cấp trung gian (cấp huyện) sau đợt tinh gọn hành chính, đã phân bổ trực tiếp nguồn lực về cơ sở nhưng vẫn không đủ kinh phí để vận chuyển và xử lý. Cơ chế tài chính hỗ trợ từ quỹ EPR hiện vẫn còn nhiều điểm chưa thông suốt", ông Quang cho biết.

Áp lực từ thực tiễn địa phương và bài toán tài chính
Tại các vựa nông sản lớn, áp lực rác thải nguy hại càng lộ rõ. Ông Nguyễn Hắc Hiển, đại diện cơ quan chuyên môn tỉnh Đắk Lắk, cho biết toàn tỉnh hiện có hơn 845.000ha đất nông nghiệp với hơn 3.100 cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Mỗi năm, địa phương phát sinh hơn 200 tấn bao bì độc hại.
Dù đã ký hợp đồng xử lý chất thải, công tác này vẫn gặp khó. Hạ tầng thiếu đồng bộ, nhiều bể chứa xuống cấp. Ông Hiển đề xuất cần gắn trách nhiệm pháp lý bắt buộc đối với các cơ sở kinh doanh, buộc họ phải tham gia thu hồi vỏ chai sau khi bán hàng.
Đồng quan điểm, ông Lê Chí Thiện - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp - chia sẻ, tỉnh này có hơn 661.000 ha lúa và 134.000 ha cây lâu năm, mỗi năm tỉnh sử dụng trên 3.100 tấn thuốc bảo vệ thực vật, kéo theo lượng chất thải rất lớn. Chi phí xử lý chất thải nguy hại hiện nay đang là gánh nặng khổng lồ, rơi vào khoảng 30 triệu đồng/tấn. Việc thay đổi thói quen xả rác của người dân đã khó, bài toán tìm nguồn vốn để tiêu hủy lượng rác khổng lồ này còn khó hơn.
Dưới góc nhìn chuyên gia, TS Phạm Tuấn Anh - nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông - cho hay, vấn đề rác thải nông nghiệp đang tích tụ âm thầm nhưng để lại hệ lụy lâu dài. Tỷ lệ thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật hiện còn rất thấp, chỉ khoảng 30% và thậm chí dưới 10% tại vùng sâu, vùng xa.
“Chúng ta không chỉ đo lường sản lượng nông sản mà còn phải tính đến lượng chất thải phát sinh và sức khỏe của đất như một chỉ số phát triển bền vững”, ông nhấn mạnh.

Theo TS Phạm Tuấn Anh, “điểm đứt gãy” nằm ở khâu xử lý sau thu gom và khoảng trống tài chính. Ngoài ra, việc áp dụng cơ chế ký quỹ môi trường cũng được xem là giải pháp khả thi, khi doanh nghiệp sẽ được hoàn trả chi phí dựa trên tỷ lệ thu hồi thực tế.
TS Phạm Tuấn Anh đề xuất cần minh bạch và phân bổ trực tiếp nguồn quỹ EPR tới các tổ thu gom tại cấp xã, phường; đồng thời áp dụng cơ chế ký quỹ môi trường đối với các doanh nghiệp sản xuất.
“Nông dân không tạo ra rác mà chỉ mua các giải pháp bảo vệ cây trồng. Rác thải từ bao bì thuốc bảo vệ thực vật nếu không được xử lý sẽ thẩm thấu vào đất và nguồn nước, quay lại đầu độc chính người nông dân. Đã đến lúc chúng ta cần mạnh tay hơn trong các chế tài tài chính để giải quyết dứt điểm loại rác nguy hại này”, TS Tuấn Anh nhấn mạnh.