Lời Tòa soạn:
Việc tách riêng kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học được ông Nguyễn Đắc Vinh, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đề xuất mới đây đã nhận được nhiều ý kiến bàn luận, nhất là trong bối cảnh vụ việc bất thường 147 điểm 10 Toán tại Trường THPT Chuyên Tuyên Quang đã có gần 30 người bị khởi tố.
Từ đề xuất trên, VietNamNet mở diễn đàn, ghi nhận nhiều góc nhìn về vấn đề này.
Bài viết dưới đây là góc nhìn của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực y khoa và khoa học y sinh. Ông hiện là giáo sư của Đại học New South Wales (Australia):
Mỗi mùa tuyển sinh, câu chuyện về điểm chuẩn, đề thi, các phương thức xét tuyển hay việc học sinh phải tham dự nhiều kỳ thi lại trở thành chủ đề tranh luận. Gần đây, đề xuất tách kỳ thi tốt nghiệp THPT khỏi tuyển sinh đại học tiếp tục được đặt ra như một hướng cải cách.
Tuy nhiên, tranh luận về việc nên tổ chức một hay nhiều kỳ thi mới chỉ chạm đến phần ngọn của vấn đề. Điều cốt lõi là Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống đánh giá cuối bậc phổ thông đủ tin cậy để vừa phản ánh đúng năng lực học sinh, vừa được các trường đại học sử dụng làm căn cứ tuyển sinh. Trong bối cảnh đó, kinh nghiệm của Australia gợi mở một cách tiếp cận đáng suy ngẫm: Đại học vẫn giữ quyền tự chủ, nhưng cùng dựa trên một nền tảng đánh giá chung, minh bạch và có độ tin cậy cao.
3 bất cập của tuyển sinh đại học
Quy chế tuyển sinh hiện nay trao quyền tự chủ rất lớn cho các trường đại học. Thí sinh có thể được xét tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp THPT, học bạ, kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, chứng chỉ ngoại ngữ hay nhiều tiêu chí khác. Sự đa dạng này tạo thêm cơ hội cho người học, nhưng cũng khiến hệ thống ngày càng phân mảnh.
Một học sinh lớp 12 có thể đồng thời chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT, kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia, kỳ thi đánh giá tư duy của một trường kỹ thuật, chứng chỉ IELTS và hồ sơ học bạ. Mỗi trường lại sử dụng tổ hợp môn, trọng số, điều kiện phụ và công thức quy đổi khác nhau. Việc tuyển sinh vì thế không chỉ còn là đánh giá năng lực mà trở thành một "chiến lược" đòi hỏi học sinh phải đầu tư thời gian, chi phí và thông tin. Gia đình có điều kiện sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc giúp con luyện thi, thi nhiều lần hay sở hữu các chứng chỉ quốc tế.
Đằng sau bức tranh đó là 3 vấn đề lớn. Thứ nhất, một kỳ thi đang phải phục vụ hai mục tiêu hoàn toàn khác nhau. Kỳ thi tốt nghiệp nhằm xác nhận học sinh đã đạt chuẩn kiến thức phổ thông hay chưa. Trong khi đó, tuyển sinh đại học phải phân loại để lựa chọn những thí sinh phù hợp nhất vào các ngành có chỉ tiêu hạn chế.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, Đại học New South Wales (Australia), là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực y khoa và khoa học y sinh. Ảnh: TGCC
Hai mục tiêu này đòi hỏi hai cách thiết kế đề thi khác nhau. Đề thi tốt nghiệp cần bảo đảm đa số học sinh đạt chuẩn có thể hoàn thành. Đề thi tuyển sinh lại phải tạo được độ phân hóa đủ lớn, đặc biệt ở nhóm khá và giỏi. Khi cùng lúc phải phục vụ cả hai mục tiêu, đề thi rất dễ rơi vào trạng thái "thỏa hiệp": Đủ để xét tốt nghiệp nhưng chưa đủ sắc để tuyển chọn người học cho những ngành cạnh tranh cao.
Thứ hai, điểm học bạ chưa được chuẩn hóa. Điểm học bạ phản ánh quá trình học tập kéo dài nên về nguyên tắc có giá trị hơn một kỳ thi duy nhất. Tuy nhiên, chuẩn đánh giá giữa các trường rất khác nhau. Một điểm 9 ở trường chấm nghiêm chưa chắc tương đương điểm 9 ở trường chấm rộng. Nếu học bạ được sử dụng trực tiếp mà thiếu cơ chế hiệu chỉnh, hệ thống có thể vô tình khuyến khích việc nâng điểm và tạo bất lợi cho những trường giữ chuẩn đánh giá nghiêm túc.
Thứ ba, các phương thức tuyển sinh thiếu bằng chứng khoa học về hiệu quả. Một phương thức tuyển sinh chỉ thực sự có giá trị nếu chứng minh được rằng những sinh viên được tuyển bằng phương thức đó học tốt hơn hoặc phù hợp hơn. Các trường đại học hoàn toàn có dữ liệu để kiểm chứng điều này thông qua kết quả học tập, tỷ lệ tiếp tục học hay tốt nghiệp của sinh viên.
Tuy nhiên, rất ít trường công bố những đánh giá như vậy. Xã hội biết điểm chuẩn của từng ngành nhưng gần như không biết phương thức tuyển sinh nào thực sự dự báo tốt nhất thành công của sinh viên sau khi vào đại học.
Australia giải quyết bài toán này như thế nào?
Australia không có một kỳ thi trung học thống nhất trên toàn quốc. Mỗi bang tổ chức chương trình và kỳ thi tốt nghiệp riêng như HSC ở New South Wales hay VCE ở Victoria. Dù khác tên gọi, các hệ thống này đều dựa trên cùng một nguyên tắc: Kết hợp đánh giá quá trình trong nhà trường với kỳ thi chuẩn hóa bên ngoài. Tại bang New South Wales, điểm của mỗi môn được hình thành từ hai nguồn có trọng số ngang nhau: Một nửa là kết quả đánh giá trong trường, một nửa là điểm kỳ thi HSC.
Quan trọng hơn, điểm đánh giá của nhà trường không được sử dụng nguyên trạng mà được điều chỉnh theo kết quả kỳ thi chuẩn hóa của chính học sinh trong trường. Nhờ vậy, thành tích học tập trong suốt quá trình vẫn được ghi nhận nhưng khác biệt về chuẩn chấm điểm giữa các trường được giảm đáng kể.
Sau đó, kết quả được quy đổi thành Australian Tertiary Admission Rank (ATAR) - một chỉ số xếp hạng từ 0 đến 99,95. ATAR không phải điểm thi mà là thứ hạng của học sinh so với các học sinh cùng độ tuổi. Chẳng hạn, ATAR 80 đồng nghĩa học sinh có thành tích cao hơn khoảng 80% số học sinh cùng thế hệ.
Khi xét tuyển, phần lớn trường đại học sử dụng ATAR làm nền tảng, sau đó cộng thêm các điểm điều chỉnh nếu cần, chẳng hạn thành tích ở một môn học liên quan, hoàn cảnh khó khăn hay khu vực sinh sống. Một số ngành đặc thù như y khoa, nghệ thuật hay âm nhạc vẫn có thể tổ chức phỏng vấn hoặc kiểm tra năng khiếu. Tuy nhiên, các tiêu chí bổ sung chỉ được áp dụng khi thật sự đo lường một năng lực mà ATAR không phản ánh. Nhờ vậy, quyền tự chủ của đại học vẫn được bảo đảm nhưng không tạo ra quá nhiều kỳ thi độc lập.
Hệ thống này có ít nhất 5 ưu điểm: Phân biệt rõ kết quả học tập với công cụ tuyển sinh; kết hợp đánh giá quá trình và kỳ thi chuẩn hóa thay vì chỉ dựa vào một nguồn dữ liệu; thí sinh đăng ký thông qua một hệ thống tuyển sinh tập trung, giúp giảm sự phức tạp; quyền tự chủ của đại học được đặt trên một nền tảng chung, thay vì mỗi trường xây dựng một hệ thống riêng; các yếu tố ưu tiên được quy đổi minh bạch thành điểm điều chỉnh, thay vì tạo ra quá nhiều "đường vào" khác nhau khó so sánh.
Gợi ý cải cách
Thứ nhất, xây dựng một chứng chỉ trung học quốc gia đủ độ tin cậy. Việt Nam cần chuyển từ tư duy "một kỳ thi cho hai mục tiêu" sang một hệ thống đánh giá cuối cấp gồm nhiều thành phần. Kết quả cuối cùng nên kết hợp điểm đánh giá quá trình ở lớp 11, lớp 12 với điểm thi chuẩn hóa bên ngoài. Điểm trong trường cần được hiệu chỉnh dựa trên kết quả kỳ thi chung để hạn chế sự khác biệt trong cách chấm.
Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT 2026. Ảnh: Phạm Công
Quan trọng hơn, hệ thống cần tạo ra hai loại kết quả riêng biệt: Một kết quả dùng để xét tốt nghiệp và một chỉ số xếp hạng phục vụ tuyển sinh đại học.
Thứ hai, xây dựng một nền tảng tuyển sinh thống nhất. Việt Nam hiện đã có hệ thống đăng ký nguyện vọng chung nhưng chưa có một thước đo tuyển sinh thống nhất. Các trường vẫn có thể xác định môn tiên quyết, trọng số hay tiêu chí bổ sung, nhưng phần lớn nên sử dụng một nền tảng kết quả chung. Các yếu tố như hoàn cảnh khó khăn, vùng sâu vùng xa hay thành tích đặc biệt có thể được quy đổi thành điểm điều chỉnh với nguyên tắc rõ ràng, minh bạch. Làm như vậy sẽ giúp học sinh hiểu rõ vị trí của mình, giảm tình trạng mỗi trường áp dụng một công thức quy đổi khác nhau và khiến điểm chuẩn trở nên dễ so sánh hơn.
Thứ ba, chỉ duy trì kỳ thi riêng nếu chứng minh được giá trị tăng thêm. Đại học hoàn toàn có quyền tổ chức kỳ thi riêng, nhưng quyền đó cần đi kèm trách nhiệm giải trình. Một kỳ thi mới chỉ nên tồn tại khi chứng minh được rằng nó đánh giá chính xác những năng lực đặc thù mà kết quả trung học chưa phản ánh, đồng thời dự báo tốt hơn thành công của sinh viên sau khi nhập học.
Việc đánh giá cần dựa trên dữ liệu theo dõi kết quả học tập, tỷ lệ tiếp tục học, tốt nghiệp và các chỉ số chất lượng khác. Nếu kỳ thi riêng không tạo ra giá trị dự báo đáng kể, không có lý do để tiếp tục duy trì.
Duy trì kỳ thi chung toàn quốc với 2 mục tiêu: Thay đổi gì để chống tiêu cực?
Từ vụ việc bất thường 147 điểm 10 Toán thi tốt nghiệp ở điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang, các chuyên gia cho rằng nếu muốn tiếp tục duy trì mô hình một kỳ thi 2 mục tiêu, cần sớm khắc phục những bất cập.