Chi tiền tỷ đầu tư lấy lãi tới 11%/năm, người phụ nữ đòi DN trả hơn 4,1 tỷ

Góp 3,2 tỷ theo 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh nhưng không được doanh nghiệp hoàn trả tiền gốc và lợi nhuận đúng hạn, một nhà đầu tư ở Hà Nội vất vả theo đuổi kiện, đòi được hơn 4,1 tỷ.


Góp 3,2 tỷ đồng qua 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh


Từ cuối năm 2021 đến cuối năm 2022, bà N. (Hà Nội) tham gia các chương trình hợp tác kinh doanh của Công ty K. với mục đích góp vốn đầu tư và hưởng lợi nhuận cố định. Theo đó, bà N. đã ký 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh với tổng giá trị đầu tư 3,2 tỷ đồng.


Hợp đồng đầu tiên được ký ngày 3/12/2021, giá trị đầu tư 1 tỷ đồng, thời hạn hợp tác một năm, lợi nhuận cố định 11%/năm và được thanh toán định kỳ 3 tháng một lần. Sau khi bà N. nộp đủ tiền, Công ty K. cấp giấy chứng nhận đầu tư. Cùng ngày, Công ty CP Phát triển Tập đoàn S. (Tập đoàn S.) phát hành thư bảo lãnh cho nghĩa vụ hoàn trả khoản đầu tư, chi trả lợi nhuận, bồi hoàn và bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng này.


Theo thỏa thuận, bà N. được nhận lợi nhuận thành 4 đợt. Tuy nhiên, bà chỉ nhận được 3 đợt thanh toán vào các tháng 3, 6 và 9/2022. Đợt lợi nhuận cuối cùng cùng khoản đầu tư gốc 1 tỷ đồng không được thanh toán khi hợp đồng hết hạn.


Trong năm 2022, bà N. tiếp tục ký thêm 4 hợp đồng hợp tác kinh doanh thông qua ứng dụng của Công ty K.


Cụ thể, ngày 11/9/2022, bà đầu tư 200 triệu đồng với thời hạn 3 tháng, lợi nhuận cố định 8,6%/năm. Ngày 3/10/2022, bà ký hợp đồng có giá trị lớn nhất, đầu tư 1,7 tỷ đồng trong thời hạn một năm với lợi nhuận cố định 10,5%/năm. Đối với hợp đồng này, Tập đoàn S. cũng phát hành thư bảo lãnh cho các nghĩa vụ của Công ty K.


Sau đó, bà N. tiếp tục ký hợp đồng đầu tư 100 triệu đồng ngày 10/10/2022 và 200 triệu đồng ngày 29/10/2022, đều có thời hạn 3 tháng với mức lợi nhuận cố định lần lượt là 8,6% và 8,8%/năm.


Góp 3,2 tỷ đồng hưởng lợi nhuận, nhà đầu tư đòi được hơn 4,1 tỷ sau khi doanh nghiệp không thanh toán. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Theo các hợp đồng, khi hết thời hạn hợp tác, Công ty K. phải hoàn trả tiền gốc và lợi nhuận. Tuy nhiên, doanh nghiệp đã không thực hiện nghĩa vụ này đối với cả 5 hợp đồng.


Cho rằng Công ty K. vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bà N. khởi kiện yêu cầu công ty hoàn trả toàn bộ 3,2 tỷ đồng tiền gốc, hơn 206 triệu đồng lợi nhuận theo hợp đồng và hơn 690 triệu đồng tiền lãi do chậm thanh toán. Tổng số tiền bà N. yêu cầu thanh toán hơn 4,1 tỷ đồng.


Đối với hai hợp đồng có thư bảo lãnh của Tập đoàn S., bà đề nghị trong trường hợp Công ty K. không thực hiện nghĩa vụ thì tập đoàn phải thanh toán thay theo cam kết bảo lãnh.


Tòa buộc doanh nghiệp trả hơn 4,1 tỷ đồng


Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty K. xác nhận đã ký 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh với bà N. và đã nhận đủ số tiền đầu tư.


Công ty cho rằng từ quý I/2023, suy thoái kinh tế toàn cầu, thị trường đóng băng và chính sách siết tín dụng khiến nhiều doanh nghiệp bất động sản gặp khó khăn. Điều này ảnh hưởng đến nguồn thu và dòng tiền của Công ty K., khiến doanh nghiệp chưa thể thanh toán đúng thỏa thuận.


Công ty cho biết đã nhiều lần làm việc với bà N. và đề xuất hai phương án giải quyết. Phương án 1, gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng thêm 24 tháng để thu xếp nguồn tiền, đồng thời trả thêm lợi nhuận bổ sung. Phương án 2, chuyển đổi giá trị khoản đầu tư thành tiền thanh toán mua bất động sản tại một số dự án đủ điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, hai bên không đạt được thỏa thuận.


Tập đoàn S. cũng xác nhận đã phát hành hai thư bảo lãnh liên quan đến các hợp đồng ký ngày 3/12/2021 và 3/10/2022 để bảo lãnh cho nghĩa vụ của Công ty K. Tuy nhiên, tập đoàn này cho rằng các thư bảo lãnh đã hết hiệu lực nên nghĩa vụ bảo lãnh đã chấm dứt. Trong thời gian bảo lãnh còn hiệu lực, bà N. không yêu cầu Tập đoàn S. thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.


Xét xử sơ thẩm, TAND Khu vực 4, Hà Nội chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N.


Tòa buộc Công ty K. thanh toán tổng cộng hơn 4,1 tỷ đồng, gồm 3,2 tỷ đồng tiền gốc, hơn 204 triệu đồng lợi nhuận cố định theo các hợp đồng và gần 745 triệu đồng tiền lãi do chậm thanh toán tính đến ngày 16/9/2025.


Đồng thời, tòa xác định nếu Công ty K. không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Tập đoàn S. phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo hai thư bảo lãnh đã phát hành.


Tòa không chấp nhận yêu cầu tính lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng của bà N.


Không đồng ý với bản án, Tập đoàn S. kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, Công ty K. không kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.


HĐXX nhận định 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự nên phát sinh hiệu lực pháp luật.


Đến khi các hợp đồng hết hạn, Công ty K. vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà N., do đó đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Việc tòa sơ thẩm buộc doanh nghiệp thanh toán hơn 4,1 tỷ đồng là có căn cứ.


Đối với các thư bảo lãnh, tòa phúc thẩm cho rằng, Tập đoàn S. tự nguyện phát hành để bảo lãnh nghĩa vụ của Công ty K., nội dung và hình thức phù hợp quy định của pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.


Theo HĐXX, khi Công ty K. không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán thì bà N. có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay theo quy định của Bộ luật Dân sự.


Do đó, TAND TP Hà Nội quyết định không chấp nhận kháng cáo của Tập đoàn S., giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.









Chi tien ty dau tu lay lai toi 11%/nam, nguoi phu nu doi DN tra hon 4,1 ty


Gop 3,2 ty theo 5 hop dong hop tac kinh doanh nhung khong duoc doanh nghiep hoan tra tien goc va loi nhuan dung han, mot nha dau tu o Ha Noi vat va theo duoi kien, doi duoc hon 4,1 ty.

Chi tiền tỷ đầu tư lấy lãi tới 11%/năm, người phụ nữ đòi DN trả hơn 4,1 tỷ

Góp 3,2 tỷ theo 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh nhưng không được doanh nghiệp hoàn trả tiền gốc và lợi nhuận đúng hạn, một nhà đầu tư ở Hà Nội vất vả theo đuổi kiện, đòi được hơn 4,1 tỷ.
Giới thiệu cho bạn bè
  • gplus
  • pinterest

Các bài liên quan

Bình luận

Đăng bình luận

Đánh giá