35m2 đất và hai lời kể trái ngược
Theo trình bày của bà T. (ngụ tỉnh Hậu Giang cũ, nay là TP Cần Thơ), phần đất đang tranh chấp vốn được bà A. cho gia đình bà sử dụng từ trước năm 1997. Trong quá trình sử dụng, gia đình bà đã bồi đắp, cải tạo đất và canh tác ổn định trong nhiều năm.
Tuy nhiên, hơn một năm trước khi khởi kiện, ông M. (con trai bà A.) đã xây dựng hàng rào trên phần đất này, khiến tranh chấp phát sinh. Bà T. khởi kiện, yêu cầu tòa án buộc bà A. trả lại đất theo kết quả đo đạc thực tế, đồng thời tháo dỡ toàn bộ tài sản đã xây dựng trên đất.
Trong khi đó, bà A. khẳng định phần đất tranh chấp luôn do bà quản lý và sử dụng từ trước đến nay. Bà thừa nhận từng cho bà T. một phần đất để dựng nhà khi gia đình bà T. gặp khó khăn, nhưng khẳng định diện tích được cho không bao gồm phần đất đang tranh chấp.
Vì vậy, bà A. cho rằng việc con trai xây dựng hàng rào trên phần đất này là hoàn toàn hợp pháp.
Thửa đất của bà T. được cấp 500m2 nhưng đo đạc thực tế chỉ còn 197m2, trong khi thửa đất của bà A. được cấp 600m2 nhưng thực tế chỉ còn 379m2. Ảnh minh hoạ: Nguyễn Huế
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông M. xác nhận mình là người trực tiếp dựng cột bê tông và xây hàng rào trên phần đất theo chỉ đạo của mẹ. Ông cho rằng hàng rào được xây trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mẹ mình.
Theo kết quả đo đạc, diện tích đất tranh chấp là 35m2. Điều đáng chú ý là cả hai bên đều thiếu diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
Thửa đất của bà T. được cấp 500m2 nhưng đo đạc thực tế chỉ còn 197m2, trong khi thửa đất của bà A. được cấp 600m2 nhưng thực tế chỉ còn 379m2.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử TAND huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (nay là TAND khu vực 14 - Cần Thơ) cho rằng sự chênh lệch diện tích không phải là căn cứ duy nhất để xác định quyền sử dụng đất, mà còn phải xem xét lịch sử quản lý, hiện trạng sử dụng và các yếu tố khách quan khác.
Lẽ công bằng là một căn cứ được tòa xem xét
Qua thẩm tra tại chỗ, tòa sơ thẩm nhận thấy trên phần đất tranh chấp có cây trồng của cả hai bên và hàng rào do phía bà A. xây dựng. Tuy nhiên, đây đều là các loại cây ngắn ngày, không thể hiện việc quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài. Thực tế, tranh chấp chỉ phát sinh khi phía bà A. xây dựng công trình trên đất.
Đáng chú ý, cả bà T. và bà A. đều không xuất trình được chứng cứ pháp lý đủ để chứng minh quyền sử dụng đối với phần đất 35m2.
Trong khi chứng cứ do hai bên cung cấp đều không rõ ràng, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã đưa ra một lập luận hiếm gặp trong các vụ án tranh chấp đất đai.
Theo bản án sơ thẩm, chính bà T. thừa nhận trước đây, khi gia đình không có đất để cất nhà, bà A. đã giúp đỡ và cho một phần đất để ổn định cuộc sống. Hội đồng xét xử cho rằng việc sau nhiều năm bà T. tiếp tục yêu cầu đòi thêm 35m2 đất từ người từng giúp đỡ mình là không phù hợp với đạo lý và lẽ công bằng.
Tòa nhận định, trong trường hợp này, yêu cầu khởi kiện của bà T. "không đúng với lẽ phải, không phù hợp với đạo lý ở đời". Từ đó, tòa quyết định không chấp nhận yêu cầu của bà T. và công nhận phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà A.
Ngoài việc bác yêu cầu khởi kiện, tòa sơ thẩm buộc bà A. thanh toán cho bà T. số tiền 15.400 đồng là giá trị hai mét vuông cây khóm trên đất. Bà T. phải chịu chi phí thẩm định, đo đạc và định giá tài sản hơn 1,78 triệu đồng.
(Tham khảo Bản án số 30/2018/DS-ST ngày 13/8/2018 của TAND huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, nay là TAND khu vực 14 - Cần Thơ)