Sách do học giả Lê Văn Uông chuyển ngữ trong nhiều năm, thứ nam của cụ là thầy giáo Lê Văn Đình chú giải. Phần chỉnh sửa bản thảo được tiến sĩ Lê Thúy Hà - con gái thầy Lê Văn Đình - cùng chồng là thầy giáo Phạm Gia Huân thực hiện.
Mỗi bài trong bản dịch đều có đủ năm phần: nguyên âm chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải. Do phong cách vịnh sử mượn nhiều điển cố, dịch giả đã chú giải chi tiết để bạn đọc ngày nay có thể hiểu rõ.
Việt sử tam bách vịnh gồm 309 bài thơ vịnh các nhân vật lịch sử Việt Nam, từ thời Kinh Dương Vương đến hết thời Hậu Trần. Tất cả được viết theo thể thất ngôn bát cú của luật thơ Đường.
Bên cạnh những vị vua Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Lê Thái Tổ, Trần Thánh Tông, các danh tướng Dương Diên Nghệ, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, còn có những bài vịnh về các nhân vật chỉ thấp thoáng trong chính sử như Huyền Trân Công chúa, sư Pháp Loa, Yết Kiêu, Hà Đặc. Ngoài ra có những viên tướng giặc như Thoát Hoan, Mộc Thạch, Trương Phụ, tạo dựng một bức tranh tổng thể về lịch sử nước nhà suốt mấy nghìn năm lịch sử.
Trong bộ Từ điển văn học, tập hai, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phạm Tú Châu khẳng định qua Việt sử tam bách vịnh, Nhữ Bá Sĩ ''ca ngợi, khẳng định thời đại Hùng vương về nhiều mặt, và đề cao tất cả những anh hùng dân tộc có công với dân với nước, bất kể miền xuôi, miền ngược, trẻ già, trai gái, xuất thân tôn quý hay bần hàn''.
Danh sĩ Nhữ Bá Sĩ (1788-1867) quê ở làng Cát Xuyên, xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hóa, nay là xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông thi đỗ Hương cống khoa thi năm Tân Hợi, niên hiệu Minh Mạng thứ 2 (1821) tại trường thi Thanh Hóa khi 31 tuổi. Ông lần lượt làm quan trải các chức Tri huyện Tiên Lữ (Hưng Yên), thăng lên Viên ngoại lang bộ Hình, Chủ sự bộ Hình, Lang trung. Ông cũng nhiều lần bị giáng truất rồi được khai phục, từng phải đi hiệu lực (đi phục dịch trong phái đoàn ngoại thương ở nước ngoài), rồi trải qua nhiều chức vụ trong ngạch giáo dục của triều đình nhà Nguyễn như Huấn đạo, Giáo thụ, Hàn lâm viện tu soạn. Chức vụ cuối cùng ông đảm nhiệm là Đốc học Thanh Hóa cho đến khi trí sĩ (thôi làm quan) và dạy học ở nhà, viết sách.
Nhữ Bá Sĩ cũng là một trong những nhà nho ở thế kỷ 19 có nhiều tác phẩm, đến nay chưa thể thống kê đầy đủ. Về đề tài văn học, sử học, hai tập Phi điểu nguyên âm và Việt sử tam bách vịnh của ông được đời sau đánh giá là có nội dung và hình thức đứng đầu.
Dịch giả Lê Văn Uông tốt nghiệp trường Sư phạm Quốc học Huế năm 1937. Trước Cách mạng tháng Tám, ông dạy học ở Bình Định, Thanh Hóa. Từ năm 1947-1970, ông là Thanh tra Tiểu học tỉnh Thanh Hóa, rồi làm giáo viên các trường Sư phạm ở Thanh Hóa. Năm 1972-1980, ông được mời thỉnh giảng Khoa Hán Nôm, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Ông là một nhà nghiên cứu Hán Nôm uy tín, là tác giả bản dịch các tác phẩm nổi tiếng như bài Lam Sơn lương thủy phú, Văn bia Vĩnh Lăng, truyện Tùy Đường diễn nghĩa, đặc biệt là bộ sử Lam Sơn thực lục, ghi chép chân xác toàn bộ diễn biến của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Lê Tiên Long