Ung thư phổi thường di căn đến hạch bạch huyết và xương, trường hợp ít gặp hơn là dạ dày, thận, mắt.
Ung thư phổi di căn xảy ra khi các tế bào ung thư tách ra khỏi khối u ban đầu và di chuyển qua đường máu hay hệ bạch huyết lan đến các vị trí xa. Theo Verywell Health, ung thư phổi thường di căn đến hạch bạch huyết, xương, não, gan, tuyến thượng thận. Các vị trí ít phổ biến hơn là dạ dày, ruột, tuyến tụy, mắt, da, thận hoặc ngực.
Nguy cơ di căn tùy thuộc giai đoạn bệnh và loại ung thư. Ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) là loại phổ biến nhất. Theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NCI), khoảng 40% trường hợp mắc NSCLC được chẩn đoán ở giai đoạn 4, khi đã di căn.
Hạch bạch huyết
Hạch bạch huyết là những cơ quan nhỏ nằm rải rác khắp cơ thể, có chức năng giữ lại và lọc các chất lạ. Ung thư phổi thường lan đầu tiên đến các hạch bạch huyết trong phổi hoặc gần các đường dẫn khí chính. Tình trạng xâm lấn cục bộ này có thể xảy ra trong giai đoạn 2 của NSCLC và thường không gây triệu chứng.
Nếu không được điều trị, ung thư có thể di căn đến các hạch bạch huyết xa và các vị trí khác trong cơ thể. Ở giai đoạn này, người bệnh có thể nhận thấy một khối u cứng ở cổ hoặc nách, nơi có hạch bạch huyết chứa tế bào ung thư.
Phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ các hạch bạch huyết gần đó là phương pháp điều trị đầu tiên cho ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm. Các phương pháp khác như xạ trị, hóa trị và liệu pháp nhắm đích có thể được kết hợp với phẫu thuật hoặc áp dụng riêng lẻ cho người bệnh ung thư di căn.
Xương
Một trong những biến chứng nghiêm trọng hơn của ung thư phổi không tế bào nhỏ là di căn đến xương. Theo Healthline, các vùng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi di căn xương bao gồm cột sống, khung chậu, xương đùi, xương cánh tay trên, bàn tay và bàn chân.
Đau là triệu chứng phổ biến nhất, thường bắt đầu từ từ, cảm giác giống như bị căng hoặc đau cơ, sau đó trở nên dữ dội. Các triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể xảy ra như gãy xương ở vùng bị suy yếu do bệnh, tăng canxi máu, chèn ép tủy sống nếu ung thư di căn đến cột sống.
Mục tiêu điều trị chính ở giai đoạn này là giảm đau và ngăn ngừa gãy xương, bao gồm dùng thuốc giảm đau, xạ trị, phẫu thuật và thuốc dùng để làm chậm quá trình phân hủy xương.
Não
Theo Hội Ung thư Phổi Mỹ, đây là loại ung thư di căn não phổ biến nhất. Nhiều bệnh nhân không có bất kỳ triệu chứng nào, song những người khác có thể thấy đau đầu, thường kèm theo buồn nôn hoặc nôn mửa, lú lẫn, mất trí nhớ, bị co giật, mất thị lực, tê hoặc yếu một bên cơ thể.
Mục tiêu điều trị lúc này chủ yếu là kiểm soát các triệu chứng chứ không phải chữa khỏi bệnh, bao gồm dùng thuốc giảm đau, thuốc chống co giật, xạ trị để thu nhỏ khối u hoặc steroid để giảm sưng não. Trường hợp di căn ít, bác sĩ có thể phẫu thuật hoặc xạ trị.
Gan
Ung thư phổi di căn đến gan có thể ảnh hưởng tới 30-50% số người mắc bệnh ở giai đoạn tiến triển. Người bệnh có thể mất cảm giác thèm ăn, sụt cân, mệt mỏi, sưng chân, ngứa, vàng da hoặc vàng mắt. Hóa trị thường được áp dụng để điều trị cả khối u nguyên phát và các tế bào ung thư trong gan.
Tuyến thượng thận
Tuyến thượng thận là cơ quan nằm trên đỉnh thận sản sinh ra hormone. Ung thư phổi di căn đến tuyến thượng thận thường không gây ra triệu chứng. Người bệnh thường được hóa trị để kéo dài thời gian sống, hoặc phẫu thuật cắt u phổi lẫn tuyến thượng thận bị ảnh hưởng.
Hầu hết các trường hợp ung thư phổi di căn không thể chữa khỏi và thường có tiên lượng xấu. Theo NCI, tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với ung thư phổi di căn là 6,3%.
Anh Ngọc (Tổng hợp)