Ngày 26/1, tiến sĩ Sayan Chakraborty, chuyên gia bệnh truyền nhiễm và nguyên Cố vấn Y tế bang Tây Bengal, thông tin với hãng tin ANI "tình hình dịch bệnh vẫn trong tầm kiểm soát". Ông xác nhận giới chức y tế của bang này chỉ ghi nhận 2 trường hợp dương tính với virus Nipah. Các ca nghi nhiễm nhập viện tại Bệnh viện Bệnh truyền nhiễm Beleghata đều có kết quả xét nghiệm âm tính và xuất viện.
Tiến sĩ Chakraborty đánh giá chính phủ đã phản ứng hiệu quả thông qua việc truy vết, cách ly và xét nghiệm kịp thời, giúp tình hình ổn định và người dân tuân thủ tốt các khuyến cáo phòng dịch. Đồng quan điểm, tiến sĩ Subarna Goswami, Phó Trợ lý Giám đốc Dịch vụ Y tế kiêm Giám đốc Bệnh viện Lao Darjeeling, cho biết cơ quan chức năng đã khoanh vùng và cách ly khoảng 190 người tiếp xúc gần. Những cá nhân có triệu chứng trong nhóm này đều được xét nghiệm và cho kết quả âm tính, đồng nghĩa chưa phát hiện thêm chuỗi lây nhiễm mới.
Dù tình hình tạm lắng, giới chuyên môn cảnh báo cộng đồng chưa thể tuyên bố đợt bùng phát đã kết thúc do đặc tính ủ bệnh phức tạp của virus. Theo ông Goswami, thời gian ủ bệnh của Nipah dao động từ 4 đến 45 ngày, đòi hỏi việc giám sát người tiếp xúc phải duy trì chặt chẽ. Đợt dịch chỉ được xem là chấm dứt nếu không xuất hiện ca bệnh mới sau khoảng ba tháng theo dõi liên tục.
Virus Nipah gây lo ngại sâu sắc cho an ninh y tế toàn cầu bởi tỷ lệ tử vong cao, từ 40% đến 75% tùy thuộc vào chủng virus và năng lực y tế, trong khi thế giới vẫn chưa có vaccine hay thuốc điều trị đặc hiệu. Loại virus này có vật chủ tự nhiên là dơi ăn quả (dơi ngựa), lây sang người qua đường ăn uống thực phẩm nhiễm dịch tiết của dơi (như trái cây, nhựa cây thốt nốt) hoặc tiếp xúc trực tiếp với vật nuôi bị bệnh như lợn.
Nguy hiểm hơn, virus có khả năng lây truyền trực tiếp từ người sang người qua giọt bắn hô hấp hoặc dịch cơ thể. Song theo các chuyên gia, để bị lây Nipah, một người thường phải tiếp xúc rất gần, như chăm sóc bệnh nhân, xử lý xác động vật hoặc ăn thực phẩm dính dịch tiết. Do đó, Nipah ít có khả năng tạo ra những làn sóng lây nhiễm quét qua cả một thành phố trong vài ngày như Covid. Nguy cơ của nó nằm ở việc bùng phát thành các ổ dịch khu trú trong gia đình và bệnh viện nếu không được phát hiện cũng như cách ly kịp thời.
Người nhiễm Nipah thường khởi phát triệu chứng giống cúm như sốt, đau đầu, đau cơ, sau đó diễn tiến nhanh đến suy hô hấp và viêm não cấp tính. Biến chứng thần kinh nghiêm trọng như lú lẫn, co giật, hôn mê có thể xuất hiện chỉ sau vài ngày. Khoảng 20% bệnh nhân sống sót phải chịu di chứng thần kinh vĩnh viễn, thậm chí virus có thể tái hoạt động gây viêm não sau nhiều năm "ngủ yên".
Virus Nipah lần đầu tiên được phát hiện sau một đợt bùng phát trên lợn và người tại Malaysia và Singapore vào năm 1999. Thời điểm đó, hơn 300 người nhiễm bệnh với trên 100 ca tử vong, buộc chính phủ phải tiêu hủy hơn 1 triệu con lợn, gây ra cú sốc kinh tế nặng nề. Kể từ đó, Nipah trở thành một "bóng ma" định kỳ xuất hiện tại Nam Á, Đông Nam Á, đặc biệt là ở Bangladesh và Ấn Độ với tần suất gần như hàng năm. Tại Ấn Độ, bang Kerala từng ghi nhận đợt dịch đầu tiên vào năm 2018. Các nghiên cứu đã tìm thấy kháng thể của virus này trên ít nhất 23 loài dơi khắp châu Á và một số vùng ở châu Phi như Ghana, Madagascar, cho thấy phạm vi tồn tại của virus trong tự nhiên là rộng lớn.
Hiện, thách thức lớn nhất với nền y học là việc chưa có bất kỳ loại thuốc kháng virus hay vaccine đặc hiệu nào được phê duyệt cho Nipah. Mọi nỗ lực điều trị hoàn toàn dựa trên chăm sóc hỗ trợ tích cực để quản lý các biến chứng nặng. Do đó, "lá chắn" duy nhất để ngăn chặn thảm họa là nâng cao nhận thức cộng đồng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt. Việc rửa sạch, gọt vỏ trái cây, đun sôi nhựa cây thốt nốt trước khi sử dụng và tuyệt đối tránh xa các khu vực dơi cư trú chính là những biện pháp sống còn. Trong môi trường y tế, việc sử dụng đầy đủ trang thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE) và tuân thủ các quy tắc kiểm soát nhiễm khuẩn là bắt buộc để ngăn chặn sự lây lan trong bệnh viện.
Sáng 27/1, Bộ Y tế Việt Nam khuyến cáo các địa phương tăng cường giám sát dịch bệnh tại cửa khẩu, cơ sở y tế và cộng đồng. Nhiều sân bay châu Á những ngày qua cũng siết chặt giám sát y tế và sàng lọc hành khách như thời Covid-19 bởi lo ngại virus xâm nhập.
Bình Minh (Theo The Independent, CDC, Cleveland Clinic)