Người giữ lửa làng tranh Đông Hồ

Bắc Ninh - Từ 6-7 tuổi được bố dạy chọn giấy dó, tô màu tranh Đông Hồ, ông Nguyễn Hữu Quả gần 60 năm qua vẫn sống với nghề dù phần lớn người làng đã từ bỏ.


Sinh ra trong gia đình có truyền thống làm tranh dân gian Đông Hồ, ông Quả đến với nghề như một tất yếu. Tuổi thơ của ông gắn liền với những ngày miệt mài tô màu, học nghề nghiêm khắc từ bố. Đến năm 12 tuổi, ông thuộc từng khuôn in, biết bức tranh nào cần khuôn nào, khuôn nào in trước, khuôn nào in sau...


Đến nay đã 63 tuổi, trong căn nhà nhỏ nằm sát đường làng tranh Đông Hồ, phường Song Hồ, tỉnh Bắc Ninh (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trước đây), ông Quả vẫn ngày ngày ngồi bên bàn in, trước mặt là giấy dó phủ điệp, mộc bản và các chậu màu lấy từ thiên nhiên, tỉ mỉ hoàn thành từng bức tranh.


"Nghề tranh thấm dần trong cuộc sống của tôi, mỗi ngày một chút để rồi trở thành một phần máu thịt, đi cùng tôi mấy chục năm qua", ông Quả bộc bạch.


Mỗi bức tranh Đông Hồ là kết quả của nhiều công đoạn: sáng tác mẫu và khắc ván, chuẩn bị giấy dó, pha chế màu sắc, phết màu in tranh, phơi tranh... "Cách quét màu phải đều tay, nhẹ vừa đủ để màu thấm vào giấy nhưng không loang, không nhạt", ông Quả giải thích.


Tranh Đông Hồ truyền thống thường có 5 màu chủ đạo, đều được lấy từ thiên nhiên. Màu đen lấy từ than gỗ xoan, rơm nếp hay than lá tre được ngâm kỹ trong chum vại vài tháng rồi mới sử dụng được. Màu xanh lấy từ rỉ đồng hay lá chàm - lá ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc, thường dùng để nhuộm quần áo.


Màu vàng lấy từ hoa dành dành, hoa hòe - loài hoa mùa hè nhiều người vẫn dùng để sắc nước uống thanh nhiệt. Màu đỏ lấy từ gỗ vang và sỏi son trên núi Thiên Thai; màu trắng lấy từ điệp. Những chất màu thô được trộn với nhau và hòa với bột nếp để tạo hồ, làm cho giấy tranh cứng hơn sau khi phơi khô.


Từ 5 màu chủ đạo, thông qua cách chồng màu, phối màu của từng nghệ nhân, tranh có thể tạo ra nhiều sắc độ. Có bức tranh chỉ dùng 5 màu nhưng cho cảm giác như có 7-8 gam màu, không bức nào giống nhau.


"Người làm nghề chuyên nghiệp, nhìn tranh đạt hay không chỉ cần xem màu có nổi trên giấy hay không, các mảng màu có khớp nhau hay không. Lệch nhẹ đôi khi tạo nên nét duyên, nhưng lệch nhiều bị coi là hỏng", ông Quả chia sẻ.


Nghề làm tranh Đông Hồ từng rất hưng thịnh, nhiều người đặt số lượng lớn, phải chờ cả tuần, thậm chí cả tháng. Ông Quả nhớ những ngày giáp Tết theo bố đi chợ, không khí chợ tranh rộn ràng. Sắc màu rực rỡ của những bức tranh, câu đối đỏ, giấy điệp lấp lánh hòa quyện với niềm háo hức của người mua, kẻ bán. Đi chợ không chỉ là bán tranh mà còn giúp ông hiểu thêm về văn hóa Tết cổ truyền, thêm yêu nghề.


Thế nhưng những năm 1970-1980, khi tranh Đông Hồ không còn được ưa chuộng, nhiều gia đình phải chuyển sang làm vàng mã, nhuộm giấy làm pháo hoặc đi làm thuê mưu sinh. Từ 17 dòng họ đến nay chỉ còn hai với ba gia đình làm tranh, trong đó có nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Quả. Ông là con cháu đời thứ 10 của dòng họ Nguyễn Hữu, là con trai thứ hai của cố nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Sam.


Khó khăn nhất là ba năm đại dịch Covid, tranh làm ra chẳng ai mua. Dù chật vật, ông Quả và gia đình nhất quyết giữ nghề truyền thống, lấy ngắn nuôi dài bằng cách tiếp tục làm nông nghiệp để có thêm chi phí duy trì, chờ ngày nghề hồi sinh.


May mắn khoảng hai năm trở lại đây, nghề tranh Đông Hồ có phần khởi sắc, nhiều người quay lại với những giá trị truyền thống. Họ đến tham quan, mua tranh Đông Hồ nhiều hơn. Con ông Quả là anh Nguyễn Hữu Đạo thường tham gia vào các sự kiện giới thiệu, lan tỏa tình yêu tranh dân gian Đông Hồ đến với mọi người.


Để thích nghi với đời sống hiện đại, bên cạnh các bản khắc in tranh cổ, ông Quả còn tìm cách sáng tạo nhiều đề tài mới. Ngoài những Đám cưới chuột, Vinh hoa - Phú quý (em bé ôm gà/vịt), Đàn lợn âm dương, Lý ngư vọng nguyệt (Cá chép trông trăng), Hứng dừa, Chăn trâu thổi sáo thì nhiều bức tranh mới được sáng tác với chủ đề lịch sử, văn hóa hoặc điều chỉnh kích thước, màu sắc cho phù hợp không gian sống mới và thị hiếu khách hàng.


Trước đơn đặt hàng từ khách nước ngoài yêu cầu phối màu khác với truyền thống hoặc tranh khổ lớn, nghệ nhân Quả chấp nhận thay đổi trong giới hạn cho phép, miễn không làm mất tinh thần cốt lõi của tranh dân gian. Ngôi nhà gia đình ông dần trở thành địa chỉ văn hóa quen thuộc. Du khách, đặc biệt là người nước ngoài, tìm đến để tìm hiểu quy trình làm tranh, xem bản khắc, đặt làm theo yêu cầu.


Cháu nội ông Quả mới học lớp 1 nhưng đã tò mò quan sát ông làm tranh Đông Hồ, giúp ông tô màu, lựa giấy dó... "Cũng tầm tuổi tôi hồi còn bé được bố dạy nghề, giờ đến cháu nội còn bé xíu mà ham học hỏi. Cháu nhìn thấy bức tranh nào cũng hỏi tôi về ý nghĩa, sao chi tiết này lại vẽ như thế", ông tự hào khoe.


Nghệ nhân nói an tâm khi các cháu yêu tranh, hy vọng lớp trẻ có thể tiếp tục giữ nghề tranh Đông Hồ - dòng tranh dân gian tồn tại hàng trăm năm.


Việt An









Nguoi giu lua lang tranh Dong Ho


Bac Ninh - Tu 6-7 tuoi duoc bo day chon giay do, to mau tranh Dong Ho, ong Nguyen Huu Qua gan 60 nam qua van song voi nghe du phan lon nguoi lang da tu bo.

Người giữ lửa làng tranh Đông Hồ

Bắc Ninh - Từ 6-7 tuổi được bố dạy chọn giấy dó, tô màu tranh Đông Hồ, ông Nguyễn Hữu Quả gần 60 năm qua vẫn sống với nghề dù phần lớn người làng đã từ bỏ.
Giới thiệu cho bạn bè
  • gplus
  • pinterest

Các bài liên quan

Bình luận

Đăng bình luận

Đánh giá