Trong suốt quá trình thăm khám, bà không có bất kỳ biểu hiện nào đáng ngờ, không đau, không sờ thấy khối u, không thay đổi bề mặt da. Tuy nhiên, bằng các phương pháp chẩn đoán chuyên sâu như siêu âm và chụp Xquang tuyến vú, bác sĩ đã phát hiện một tổn thương được phân loại BIRADS 4 – mức nghi ngờ ác tính cao. Kết quả xét nghiệm tế bào học sau đó xác nhận bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tuyến vú giai đoạn sớm.
PGS.TS Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch mai, chia sẻ ung thư vú ở giai đoạn đầu thường không gây đau hay biểu hiện rõ ràng. Đây là lý do khiến nhiều người chủ quan, chỉ đi khám khi cơ thể đã có dấu hiệu rõ rệt.
Thực tế, khi sờ thấy khối u hoặc xuất hiện triệu chứng xâm lấn, bệnh có thể đã tiến triển sang giai đoạn muộn, làm giảm đáng kể hiệu quả điều trị. Ngược lại, nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm có thể lên tới hơn 90%. Không chỉ tăng khả năng chữa khỏi, việc phát hiện sớm còn giúp người bệnh bảo tồn tuyến vú, giảm can thiệp xâm lấn và tiết kiệm chi phí điều trị.
Tại Việt Nam, mỗi năm có hơn 24.000 ca mắc mới ung thư vú. Đáng chú ý, bệnh đang có xu hướng gia tăng ở nhóm phụ nữ từ 30 đến 40 tuổi. Nhiều trường hợp trẻ tuổi được phát hiện bệnh khi chưa có triệu chứng, chỉ nhờ việc chủ động đi khám định kỳ. Các nhóm cần đặc biệt lưu ý bao gồm: Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên; người có tiền sử gia đình mắc ung thư vú; người có mô vú dày; người có yếu tố nguy cơ liên quan đến nội tiết hoặc lối sống.
Bác sĩ Đào Danh Vĩnh, Giám đốcTrung tâm Chẩn đoán hình ảnh & Điện quang can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Vinmec Ocean Park 2, cho hay chụp nhũ ảnh (hay Xquang tuyến vú) là phương pháp tầm soát ung thư vú phổ biến hàng đầu hiện nay, có thể phát hiện những tổn thương rất nhỏ, ngay cả khi chưa thể sờ thấy bằng tay. Kỹ thuật này sử dụng tia X liều thấp để ghi lại hình ảnh cấu trúc tuyến vú, giúp phát hiện sớm các bất thường mà thăm khám thông thường khó nhận biết.
Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng hình ảnh, tuyến vú cần được ép trong quá trình chụp, dễ gây cảm giác đau hoặc khó chịu cho người bệnh. Bên cạnh đó, những lo ngại về liều tia và độ chính xác cũng khiến nhiều phụ nữ còn chần chừ khi tiếp cận phương pháp này.
Song, hiện nay có nhiều móc móc hiện đại, tích hợp các công nghệ đã giúp các bệnh nhân thoải mái hơn trong việc tầm soát. Đặc biệt, công nghệ chụp nhũ ảnh 3D (tomosynthesis) cho phép "tách lớp" mô vú, giúp phát hiện các tổn thương bị che khuất, một trong những nguyên nhân khiến ung thư bị bỏ sót ở phương pháp 2D truyền thống. Nhiều nghiên cứu cho thấy kỹ thuật này giúp tăng đáng kể tỷ lệ phát hiện ung thư xâm lấn.
Bên cạnh đó, hệ thống siêu âm vú tự động 3D tích hợp trí tuệ nhân tạo cũng hỗ trợ phát hiện tổn thương ở những phụ nữ có mô vú dày – nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị bỏ sót khi chỉ chụp nhũ ảnh. Việc kết hợp giữa dữ liệu hình ảnh và khả năng phân tích lâm sàng giúp bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác, cá thể hóa cho từng người bệnh. Chính sự phối hợp chặt chẽ giữa con người và công nghệ đã tạo nên hiệu quả vượt trội trong tầm soát và phát hiện sớm ung thư vú.
Các chuyên gia khuyến cáo, thay vì chờ cơ thể "lên tiếng", phụ nữ nên chủ động tầm soát định kỳ để phát hiện bệnh từ sớm. Khám sức khỏe định kỳ không chỉ giúp phát hiện ung thư vú mà còn nhiều bệnh lý nguy hiểm khác khi còn ở giai đoạn tiềm ẩn.
Lê Nga