Chỉ cần đứng trước cơn nguy biến, các cá thể, hội nhóm sẽ tìm cách bám chặt lấy nhau, tạo thành một khối thống nhất bởi lo sợ sự đơn lẻ khó đảm bảo cho cuộc sinh tồn. Nhiều dòng họ cố gắng duy trì quyền lợi và tìm sự bảo hộ qua việc liên minh gia tộc, kết giao ngầm giữa các thế lực quan lại, khiến triều đình Lê trung hưng liên tục phải đưa ra những lệnh nghiêm cấm. Trong khi đó, các thành viên cùng gia tộc càng tìm cách gắn kết thành một chỉnh thể thống nhất, xây dựng nền tảng và bệ phóng quyền năng. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự phát triển đến mức bùng nổ của tên đệm chung, và xu hướng đặt tên gia tộc theo cùng một bộ thủ chữ Hán, vừa củng cố tính đồng nhất nội bộ, vừa tạo điều kiện để người ngoài dễ nhận biết gốc gác xuất thân.
Xét riêng 3.487 tên họ lưu lại trong hai bộ sử Toàn thư và Tục biên, có thể thấy vào thời Trần, nội bộ hoàng tộc đã sử dụng một số tên đệm đặc trưng, điển hình gồm Nhật (mặt trời), Quốc (đất nước), Quang (ánh sáng), Nguyên (đứng đầu), đều mang ẩn dụ dòng dõi đế tử vương tôn. Phát triển tới thời Lê trung hưng, những tên đệm phổ biến gồm:
Ngọc, Doãn, Tử, Tông, Nhữ, Viết, Duy;
Tiến, Đăng, Đinh, Sĩ, Hữu, Xuân, Huy;
Phúc, Quang, Cảnh, Thế, Văn, Minh, Đắc;
Nhân, Quý, Công, Danh, Mậu, Khắc, Thì.
Có thể kiểm tra lấy mẫu tên họ dân gian qua tấm bia Phụng sự bi, niên đại 1670, và Đào Quan xã đình bi, niên đại 1694. Kết quả, trong 173 danh tính được lưu lại, có tới 170 trường hợp được đặt theo hình thức ''họ, đệm, tên''. Trong đó, Văn, Công, Ngọc là những tên đệm thịnh hành với tần suất lớn. Đặc biệt tên đệm chiếm tỷ lệ cao nhất 65,72%, là đệm Văn, tương tự sự bùng nổ của tên chữ Nhân vào thời Lê Thánh Tông, chứng tỏ sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo trong bối cảnh bấy giờ. Bên cạnh đó, còn cho thấy hiện tượng ''nam Văn nữ Thị'' đã sớm xuất hiện từ thế kỷ XVII, mà xu hướng đặt tên của người Việt ở các thế kỷ sau nhìn chung kế thừa phong cách họ tên định hình và phổ biến ở giai đoạn này.
Khi những cá nhân đầu tiên gặt hái được thành công trên con đường chính trị, hoặc muốn bảo lưu quyền lợi cho hậu thế, hoặc muốn con cháu noi theo chí hướng của ông cha, thường có xu hướng đặt tên đệm chung cho toàn bộ thành viên trong gia tộc. Một khi tên đệm được duy trì ổn định qua vài đời, dần hình thành nên họ kép, trong đa số trường hợp, nên được coi là dòng họ riêng biệt. Dòng họ Nguyễn Phúc là ví dụ hết sức điển hình trong trường hợp này.
Từ sau thế kỷ XIII, xuất phát từ lệnh đổi họ từ triều Trần, số người mang họ Nguyễn ở Việt Nam ngày một gia tăng, dĩ nhiên trên thực tế đến từ nhiều nguồn gốc. Bởi vậy, tới thế kỷ XVI, XVII, để phân biệt dòng tộc cũng như các chi phái, theo xu thế tất yếu, người ta buộc phải nhờ tới tên đệm và duy trì tính ổn định của việc đặt tên qua các thế hệ kế sau. Vào năm 1613, vị chúa thứ hai của chính quyền Đàng Trong, Nguyễn Phúc Nguyên, lần đầu tiên quy định Nguyễn Phúc trở thành quốc tính, họ riêng của nhà chúa. Kể từ đây, Nguyễn Phúc tộc dần trở thành dòng họ biệt lập, đặc biệt dưới sự sắp xếp của các vua triều Nguyễn về sau.
Như năm 1802, vua Gia Long quy định phân biệt các dòng con cháu của Thái Tổ Nguyễn Hoàng, những chi phái ở phía bắc mang họ Nguyễn Hựu, chỉ có những chi phái di cư về phía nam mới mang họ Nguyễn Phúc hoặc Tôn Thất. Đến năm 1820, vua Minh Mạng tiếp tục xuống chỉ dụ cấm quan dân cả nước nếu không phải tôn thất (người hoàng tộc) không được mạo nhận cũng như sử dụng hai chữ Nguyễn Phúc để đặt tên. Trường hợp cố tình đặt tên họ có hai chữ Nguyễn Phúc sẽ phải chịu tội đồ (đi đày).
Ngoài ra, vua Minh Mạng tiếp tục phân biệt rõ, dòng họ Nguyễn Phúc dành riêng cho con cháu trực hệ của đế vương, dòng họ Tôn Thất dành cho hậu duệ của các chúa Nguyễn. Kể từ đó, những công thần được nhận ban quốc tính từ xưa đều phải đổi thành họ Nguyễn Cửu hoặc Nguyễn Hữu, ngoại trừ trường hợp công thần tuổi cao, không có con nối dõi như Nguyễn Phúc Long mới cho được giữ nguyên. Mọi sự đều do vua Minh Mạng chỉ đạo sắp đặt, nhằm củng cố, tăng cường địa vị độc tôn của dòng tộc, đồng thời khiến liên kết huyết thống trong dòng họ càng trở nên chặt chẽ. Xét từ nhãn quan của triều đình nhà Nguyễn, họ kép cấu thành bởi họ và tên đệm, rõ ràng là dòng họ riêng biệt. Và từ góc độ của những người được ban tên đệm trở thành họ kép như họ Hồ Đắc, Nguyễn Khoa... ''hầu hết đều muốn giữ lại để chứng tỏ nguồn gốc cao quý''.
Bên cạnh đó, trong suốt thế kỷ X-XV, việc dùng bộ thủ chữ Hán liên kết danh tính của các tộc viên chỉ lưu hành trong bộ phận quý tộc cung đình, chưa tạo thành xu thế lớn. Việc đặt tên cả gia tộc mang cùng ký tự với tính chất tộc hiệu trở nên phổ biến khi bước vào thời đại Lê trung hưng (1533-1789). Những bộ chữ thường được dùng đặt tên phần lớn mang ẩn dụ về sự sinh sôi, tiếp nối, quyền lực và sự giàu sang, như bộ Nhật (mặt trời), biểu tượng của quân vương, quyền lực và sự tỏa sáng; bộ Ngọc, bộ Kim (vàng ngọc), biểu tượng đài các, cao sang; bộ Thủy (sông nước) tượng trưng cho nguồn mạch, sự truyền nối lâu dài; bộ Mộc (cây cối) tượng trưng cho sự phát triển vững mạnh, tươi tốt; bộ Miên (mái nhà) tượng trưng cho gia tộc, sự yên bình và chở che; bộ Mịch (sợi dây) tượng trưng cho sự gắn kết, tiếp nối; bộ Nhân, bộ Tâm tượng trưng cho cảm xúc, tư duy và đôi khi là tinh thần khắc kỷ...
Như vậy, qua mô thức họ, đệm, tên phát triển nở rộ ở thời đại Lê trung hưng, có thể thấy rõ mối liên kết gia tộc được thắt chặt bởi ba nút tam trùng (trùng họ, trùng đệm và trùng bộ thủ của tên chính), phổ biến trong căn cước tính danh của vô số dòng họ lớn nhỏ lúc bấy giờ.
Kỳ 1, Hết.
(Trích sách Họ và tên - Một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt)